Thời xa xưa, cổ nhân luôn tin rằng Thần Phật là thực sự tồn tại. Họ tin tưởng rằng nhất cử nhất động của con người đều không nằm ngoài ánh mắt của chư Thần.

Những người làm việc ác nghĩ rằng không ai nhìn thấy là sẽ thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật, nhưng kỳ thực lại không trốn khỏi con mắt của chư Thần.

Từ khi tôi tròn 15 tuổi, mọi người truyền tai nhau hai câu chuyện ngắn dưới đây, mà cho đến nay vẫn luôn in đậm trong tâm trí tôi. Bản thân tôi cũng tự nhắc nhở mình rằng: “Ban ngày không làm điều trái lương tâm thì ban đêm không sợ ma quỷ tới gõ cửa”

\Câu chuyện thứ nhất

Ở huyện Trình xưa có một người đàn ông họ Bành, người đời vẫn gọi ông là lão Bành. Vợ lão Bành mắc bệnh đã nhiều năm, không thể tự làm được việc gì, mọi việc trong nhà từ kiếm kế sinh nhai đến chăm sóc vợ và đứa con trai nhỏ tuổi đều dựa vào một tay lão Bành thu xếp. Vì cả nhà ba miệng ăn đều trông chờ vào đó nên cuộc sống thật vô cùng khổ cực.

Hôm ấy, lão Bành mang cuộn tơ lụa lớn đến cửa hiệu ở huyện bên để bán. Sau một hồi thương thảo với chủ hiệu, cả hai vẫn chưa ra được mức giá cuối cùng.

Vừa hay lúc ấy có một vị khách cũng tới cửa hiệu tơ lụa này, chủ hiệu liền quay sang tiếp vị khách mới, mặc kệ lão Bành đang rầu rĩ cùng với cuộn tơ lụa đặt trên quầy.

Nhưng chỉ ngoảnh đi ngoảnh lại lão Bành đã không còn thấy cuộn tơ lụa của mình đâu nữa. Ngoài chủ hiệu và vị khách lạ mặt kia thì chẳng có ai lấy được cuộn tơ lụa này, nhưng đáng tiếc là chủ hiệu cứ khăng khăng một mực không chịu nhận tội.

Chẳng còn cách nào khác, lão Bành tay không trở về nhà với vẻ mặt buồn bã suốt dọc đường. Vừa về đến cửa, đứa con làm nũng đòi cha mua kẹo. Lão Bành nổi nóng gạt tay cậu con trai ra, không ngờ thằng bé ngã xuống, đầu đập vào khung cửa mà qua đời. Lão Bành vô cùng đau đớn, nhảy xuống sông tự vẫn. Vợ ông vì bệnh nặng lại quá đau thương nên chỉ một thời gian ngắn sau cũng ra đi. Cả nhà họ, ba người chỉ trong mấy ngày mà lần lượt ra đi khiến dân làng không khỏi thương xót.

Đúng ngày thứ ba sau khi vợ lão Bành qua đời, trời bỗng nhiên nổi cơn giông bão, sấm chớp đùng đùng, tiếng sét xé toang một vùng trời. Khi sấm sét qua đi, người ta phát hiện ra ngôi nhà của ông chủ tiệm tơ lụa bị sét đánh trúng.

Khi dân làng chạy đến, thấy vợ ông chủ tiệm đang bàng hoàng ngồi trước hai cái xác vừa bị sét đánh. Gương mặt vẫn còn hoảng hốt, bà ta kể rằng:

“Tôi biết tội của mình rồi. Hôm trước, Tôn Mỗ đến cửa hiệu tơ lụa nhà tôi, nhân lúc mọi người không để ý đã lấy trộm cuộn tơ lụa của lão Bành. Ông nhà tôi nhìn thấy Tôn Mỗ lấy trộm nên đã đòi chia đôi số tiền bán được, nếu không sẽ tố giác. Tôi vô can nhưng cũng giấu kín bí mật này, nào ngờ lưới trời lồng lộng.

Khi nghe tin cả ba người nhà lão Bành đã chết, chúng tôi mới yên tâm ở đây chia đôi số tiền. Không ngờ đang lúc hăng hái nhất thì đột nhiên sấm sét nổ đùng đoàng, cả ông nhà tôi và Tôn Mỗ ngồi trong nhà mà vẫn bị sét đánh. Thiên Lôi hẳn là giữ lại cái mạng nhỏ này của tôi để nói ra sự thật mà tạ tội với Thần linh. Tôi từ nay về sau không bao giờ dám làm việc tổn hại đức nữa”.

Dân làng tận mắt nhìn thấy cảnh tượng diễn ra, ai nấy đều vô cùng khiếp sợ mà cảm thán rằng: “Quả đúng là ác hữu ác báo, lưới trời tuy thưa mà khó lọt!”

Câu chuyện thứ hai

Cha tôi là một lão nông chân lấm tay bùn nhưng vô cùng chăm chỉ chịu khó. Cả đời ông đã chắt chiu làm lụng, vất vả khó nhọc nên tất cả vốn liếng đều dành cho anh em tôi ăn học, mãi sau này ông mới dành dụm được chút tiền. Thế rồi ông cho người hàng xóm mượn trong lúc cấp bách, hai năm sau đó người hàng xóm mới mang 150 đồng sang trả cho cha tôi. Lúc ấy cha tôi đã nhớ sai nợ, thực tế người ta vẫn còn thiếu của ông 50 đồng.

Ngày ấy 50 đồng không phải là một con số nhỏ. Thế nên khi nhớ ra số tiền ấy, cha tôi đã tìm đến nhà hàng xóm để nói rõ sự tình, nhưng người hàng xóm chỉ một mực bác bỏ. Ông ta chỉ tay lên trời rồi chỉ xuống đất mà phát lời thề rằng, số tiền mượn chỉ là 150 đồng không hơn không kém. Nếu như ông ta nói dối sẽ khiến cho thóc lúa nhà mình mất mùa, tiền vốn thua lỗ, nhà cửa bị cháy, con gái thì làm nghề không đàng hoàng.

Trong lúc hai người đôi co như vậy, hàng xóm láng giềng đều vây quanh can gián. Nhưng vì không ai có thể làm chứng cho cha tôi nên ông đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt cho qua chuyện.

Mùa thu năm ấy, nhà của người hàng xóm đó đột nhiên bị cháy, dân làng phải đến cứu giúp. Có người nói: “Dối trá gạt người ắt sẽ không có kết cục tốt, nay nhà cửa đều đã bị cháy rồi, ông trời quả thật là có mắt”.

Lại qua nửa tháng sau, nghe nói ruộng lúa mà ông ấy bao khoán bị thua lỗ, năm đó mưa thuận gió hòa, cả vùng bội thu, duy chỉ có nhà ông là mất mùa. Lời thề độc mà ông ấy phát ra nay đều ứng nghiệm. Bởi gia cảnh càng ngày càng khó khăn hơn, hai cô con gái lần lượt bỏ học, rồi đi làm thuê bên ngoài. Mấy năm sau, nghe người trong làng đồn thổi, hai cô con gái của ông đều làm cái nghề không ngay chính.

Bởi vậy người xưa mới dạy:

1. Con người ta trong bất kể hoàn cảnh nào cũng đừng lên làm việc hại người.

2. Những người rắp tâm làm điều bất chính thường sẽ bị ý kiến, những người nhân phẩm xấu xa, tất sẽ bị nghi ngờ.

3. Thân ngay thẳng sẽ không sợ dáng bị nghiêng, chân mà thẳng sẽ không sợ giày bị vẹo.

4. Người ngay chính sẽ không sợ lời nói xấu gièm pha, tâm thành thật sẽ không sợ ma quỷ quấy nhiễu.

5. Bạn là một người thiện lương cuối cùng sẽ kết quả thiện. Bạn là một người chính trực, cuối cùng sẽ kết quả phúc.

6. Làm người cần đầu đội trời, chân đạp đất. Hành được chính mới có thể đứng được vững.

7. Đối xử với người đừng nên coi thường cũng đừng nên tính toán, chỉ có sự thành tâm mới là tốt nhất.

8. Xử lý sự việc đừng qua loa cũng đừng lừa dối. Chỉ có thành ý mới có thể hoàn thành tốt mọi việc.

9. Làm người đừng làm việc hổ thẹn với lương tâm, bởi trên đầu ba thước có thần linh.

10. Người tốt cả đời bình an, người xấu cả đời bất an.

11. Người có tâm địa xấu xa, ban đêm thường hay bị tỉnh giấc. Người làm việc xấu xa, sớm muộn gì cũng sẽ bị báo ứng.

12. Dùng nhân tâm bất chính để có được của cải tiền tài phi nghĩa, sẽ không thể có kết cục có hậu.

13. Làm những việc tồi tệ xấu xa với những người lương thiện, sẽ không có phúc.

14. Vào bất kể lúc nào hãy luôn nhiệt tình làm việc, làm một người tốt, đừng biến một trái tim màu hồng trở thành màu đen, đừng biến một trái tim thiện lương trở thành tà ác.

15. Nếu bạn là một thương nhân hãy lấy thành tín trung thực làm gốc, đừng thay xà đổi cột làm hại người khác.

16. Nếu bạn là một người giàu có, hãy ghi nhớ lấy thiện lương làm gốc, đừng ỷ thế giàu có mà kiêu căng coi khinh người khác.

17. Con người đang làm Thần đang nhìn, đừng tự chuốc lấy phiền phức cho bản thân. Làm người tốt sẽ không bị thiệt thòi, làm việc thiện sẽ được tăng phúc báo.


 Dấu hiệu nhất định bạn đã tích đức từ kiếp trước, cuộc đời ắt nhiều phúc báo.

1. Có dấu hiệu đặc thù mang điềm báo phúc lành trong bát tự và tướng số.

2. Có vết đốm, vết bớt, nốt ruồi tạo thành thất tinh, hoặc các chòm sao.

3. Các bộ phận trên thân thể đều phân chia âm – dương tách biệt. Rõ ràng nhất là xét bàn tay. Khi nắm tay vào và đưa lên đầu, giữa lòng bàn tay và mu bàn tay (được biết đến như hai mặt âm – dương của bàn tay) ngay lập tức hiện lên ranh giới rõ ràng giữa trắng và hồng.

4. Trong thời khắc nguy hiểm hoặc trong một khoảnh khắc huyền bí nhất thời, nhìn thấy được cảnh tượng qua con mắt thứ ba.

5. Tai nạn đến trùng trùng điệp điệp nhưng tinh thần và thân thể luôn trong trạng thái khoẻ mạnh. Một đời đều là “gặp đại nạn mà không chết”.

6. Tâm thái mềm mỏng, từ bi không nỡ sát sinh, không tham tiền tài, không hẹp hòi, bủn xỉn, không tích tiền.

7. Thông minh, trí tuệ, ngộ tính cao. Bình sinh hay có hứng thú đối với những điều huyền bí trong tôn giáo, Phật giáo. Thường hay học theo những điều bí truyền, trong mộng thường thấy bản thân bay tới một số nơi có núi rừng, miếu cổ, thánh địa nào đó.

8. Nguyên thần xuất khỏi thân thể trong lúc ngủ, thấy bản thân đi luyện một môn pháp nào đó, hoặc lên trên thiên quốc, hoặc vô thức mà đọc được một cuốn sách trời.

9. Bản thân cảm thấy mình đều tự dưng biết được nhiều việc, cảm thấy rất quen thuộc các sự việc xảy ra nơi thế gian.

10. Nằm mộng thấy ai đó hoặc sự việc nào đó, tiếp nhận một loại nhiệm vụ hay sứ mệnh nào đó.

11. Thường hay mơ thấy Phật Đạo Thần, thấy bản thân xuất khỏi thân thể đi đâu đó.

12. Đột nhiên chẳng hiểu sao thấy mệt mỏi, nhưng kiểm tra thì không tìm ra bệnh.

13. Cảm ứng được với những thứ liên quan đến Thần, Phật, siêu nhiên. Cảm nhận được khi tiếp xúc với các tu sĩ, tăng nhân tu Đạo tu Phật, hương đồng, v.v.. trong núi cao, miếu địa.

Phúc báo trong đời người :

Người có tâm với nghề nghiệp dễ gặp được phúc báo

Một người luôn đặt tâm vào công việc, nhiệt tình trong công tác, luôn cố gắng duy trì một trạng thái tinh thần tích cực để đạt được kết quả tốt thì đó là một loại năng lượng thuần chính.

Khi bạn thực sự đặt tâm vào công việc, bỏ công sức cho công việc nhiều hơn mà không tính toán mưu cầu thì sẽ tự nhiên ở trong đám đông mà nhận được sự chú ý của quý nhân. Người bỏ ra nhiều công sức thì tất nhiên cũng sẽ thu được hồi báo tương xứng.

Người vui vẻ sẽ gặp được phúc báo

Một người nếu luôn nở nụ cười trên môi sẽ tự nhiên có thể truyền lại niềm vui, tâm tình vui vẻ, ấm áp đến những người bên cạnh, khiến mọi người sinh ra một loại cảm giác thân thiết, gần gũi.

Đồng thời, tâm thái tích cực còn có thể cuốn hút, cảm hóa và khích lệ người khác, dễ dàng nhận được thiện cảm và ấn tượng tốt từ người khác. Do đó họ sẽ dễ gặp được quý nhân trợ giúp.

Ngoài ra, người luôn vui tươi thì trong lòng thường không có nhiều ý nghĩ xấu, mưu đồ xấu hại người, do đó họ không làm điều xấu, điều ác và họ sẽ được phúc báo.

Phúc báo của chúng ta, là do chúng ta tự mình tích lũy, nó đến từ thiện tâm, thiện hành và những nỗ lực tích cực, ngoài ra còn đến từ cả những ngôn từ cử chỉ của chúng ta.

Tất cả tài phú, danh vọng, địa vị, đều là những thứ bề ngoài. Đức hạnh mới chính là điều căn bản, “Đức dày thì mang lại tài vật” câu nói này không sai chút nào. Tại sao sau khi học tập văn hóa truyền thống có thể mang đến tài phú một cách dễ dàng? Bởi vì đức dày có thể mang lại tài vật, thiên kimtài phú chắc chắn là đến với những người nhân đức.

Cổ nhân chú trọng phúc báo khi về già, nghĩa là đến khi già mới hưởng thụ phúc báo, bởi vì già rồi, thân thể không còn khỏe, nếu phải chịu khổ thì chính là khổ thêm khổ. Khi còn trẻ, chịu khổ một chút cũng không sao, thể lực còn tốt, có thể chịu đựng được.

Tuy nhiên, con người hiện nay lại làm ngược lại, chưa có mà đã vay ăn trước, còn trẻ mà đã nghĩ đến việc hưởng thụ, khi về già sẽ vô cùng thê thảm.

Người có lòng lương thiện, luôn giúp đỡ người khác

Người có lòng lương thiện, yêu thương mọi người, luôn giúp đỡ người khác mà không mưu cầu hồi báo thì chính là người đã tích được công đức lớn và họ đương nhiên được phúc báo, đó là Thiên lý.

Ngoài ra người lương thiện luôn hòa đồng với mọi người, khuyến khích người khác làm việc thiện, thấy người khác làm việc xấu thì khuyên giải một cách thiện ý, nên bên cạnh họ luôn có quý nhân đi theo trợ giúp.

Những lĩnh vực khác

– Thường có suy nghĩ muốn đi đâu phiêu bạt tự do tự tại, chứ không tới nơi phồn hoa, danh tiếng.

– Có thể cân bằng tốt việc học tập và thực tiễn, khả năng học tập mạnh mẽ, khả năng phân tích, quy nạp, tổ chức đều tốt.

– Cực kỳ quan tâm tới tình trạng sức khoẻ của bản thân, theo đó cũng có sắp xếp trước cho sự ra đi của mình.

– Giác quan thứ 6 rất mạnh mẽ.

– Có mắt nghệ thuật, có mỹ cảm, biết thưởng thức.


12 đường nhân quả báo ứng con người cần ghi nhớ có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đời của mỗi người. 

1. Người sẵn lòng cho đi sẽ khiến phúc báo càng ngày càng đến nhiều.

2. Người biết cảm ơn, sẽ khiến thuận lợi càng ngày càng nhiều hơn.

3. Hay giúp đỡ người khác thì quý nhân sẽ càng ngày càng nhiều.

4. Người hay phàn nàn sẽ càng ngày càng có nhiều phiền não.

5. Người biết đủ, biết thỏa mãn sẽ càng ngày càng có nhiều niềm vui, niềm hạnh phúc.

6. Người chỉ biết trốn tránh thất bại, thử thách, thì thường thất bại càng đến nhiều hơn.

7. Người biết chia sẻ với người khác, sẽ càng ngày càng có nhiều bạn.

8. Người hay giận giữ, bực bội, bệnh tật sẽ sinh ra càng ngày càng nhiều.

9. Ưa thích chiếm tiện nghi sẽ khiến cuộc đời càng ngày càng nghèo khó.

(Diễn giải chiếm tiện nghi: ý nói đến việc chỉ muốn hưởng lợi trong khi chi phí thì người khác phải chịu)

10. Người hay dùng tiền tài giúp người khác, phú quý sẽ đến nhiều hơn.

11. Người chỉ ưa thích được hưởng phúc, thường sẽ bị nhiều khổ đau.

12. Người chăm chỉ học tập sẽ khiến trí tuệ ngày càng phong phú.

Và trong cuộc sống đừng để mình “đắm chìm” vào những điều dưới đây. Bởi nó sẽ khiến bạn khó có đường quay đầu trở lại!

Mê: Đừng mê quá sâu! Nếu mê quá sâu sẽ khó thức tỉnh.

Lời nói: Đừng nói quá tận, nói đến cùng! Nói tận rồi sẽ không thể linh hoạt khéo léo.

Việc: Đừng làm quá tuyệt, quá tận! Nếu làm quá tuyệt, quá tận rồi sẽ khó có đường tiến lui.

Tình: Đừng đắm chìm quá sâu! Đắm chìm sâu rồi sẽ khó kiềm chế, khó thoát ra.

Lợi: Đừng coi quá nặng! Đặt nặng rồi sẽ khó sáng suốt.

Người: Đừng quá giả! Quá giả rồi sẽ khó thổ lộ tâm tình.

Đạo lý đơn giản là vậy nhưng người làm được cũng không phải là nhiều. Ai có thể làm được, người ấy có thể sống một cuộc đời thong dong, tự tại, nhẹ nhàng và thoát tục!


Người có Phúc ắt được Trời giúp, không cần so đo tính toán với tiểu nhân!

Mọi việc đã được định sẵn, nếu bản thân muốn thay đổi vận mệnh chỉ còn cách trở thành người tốt, như thế mới có thể đổi mọi chuyện.

Làm việc nên làm, không làm việc không nên làm

Kỳ thực, người sống trên đời, hãy làm việc mình nên làm, đừng làm việc không nên làm. Hãy học cách thuận theo tự nhiên, buông bỏ chấp nhất (dính mắc, vướng bận, bận tâm…)

Điều mà người ta gọi là buông bỏ chấp nhất không phải là buông bỏ cuộc sống, cơm cũng không ăn, ngủ cũng không ngủ. Đây không được gọi là buông bỏ, mà còn là một loại chấp nhất khác. Thậm chí có người quan niệm rằng buông bỏ là việc gì cũng không làm, mặc cho cuộc sống trôi qua… Đây thực sự không phải buông bỏ mà là một kiểu vô trách nhiệm.

Việc này nên làm thì chúng ta làm, đây chính là một loại tự nhiên nhất. Giống như, khi bạn đi trên đường, gặp một đứa trẻ đi bên kia đường trượt chân ngã, lúc này bạn đến bên đưa tay ra cho đứa trẻ vịn mà đứng lên, đây chính là việc tự nhiên nhất. Không phải bỏ qua, coi như không nhìn thấy mới là buông bỏ, mà không làm mới là mất tự nhiên. Cha mẹ ốm nặng, nếu như nói là buông bỏ không quan tâm thì đó không phải là buông bỏ mà là trốn tránh trách nhiệm.

Ở đời có những việc nên làm và không nên làm, không nên chấp nhặt tiểu nhân. Mọi việc đều có quả báo!

Học cách tha thứ, buông bỏ sẽ tự được báo đáp

Người biết tha thứ là người biết nghĩ cho người khác, không vì cầu toàn mà hằn học, trách cứ, giận dữ khi người khác mắc sai lầm. Người cố chấp, thù dai, nhớ lâu là người luôn luôn nhìn cuộc sống dưới lăng kính màu hồng hoặc là người có cuộc sống đơn giản, ít trải nghiệm và bản thân người đó cũng cố chỉn chu, không để xảy ra sai lầm, do vậy không chấp nhận người khác sai lầm.

Trước tiên hãy nhớ, tha thứ là một trong 3 điều mà người xưa dạy chúng ta phải biết quên: Quên tuổi tác, quên bệnh tật và quên hận thù.

Tiếp theo, hãy tự vấn bản thân và trả lời chính xác, trung thực các câu hỏi sau: “Có ai không bao giờ sai lầm không?”, “Bản thân mình có bao giờ không có sai lầm không”, “rơi vào tình huống ấy, hoàn cảnh ấy, liệu mình có không mắc sai lầm không”, “trong sai lầm của người đó, có phần nào trách nhiệm của bản thân mình không”, “so với sai lầm, thì người đó có nhiều điểm tốt đẹp không?”…

Đừng kiềm chế sự tức giận, tìm cách xả nó ra, nhưng cố gắng không làm tổn thương thêm bản thân và người khác. Tức thì cứ nói cho hả giận, bực thì kể lể với ai đó cho bõ tức. Nói xong, xả xong, nhẹ người thì cố quên đi.

Có câu chuyện như sau:

Trác Mậu, tự là Tử Khang, sống vào thời Tây Hán (207 TCN-9 SCN), là người huyện Uyển, Nam Dương (nay là một thành phố thuộc tỉnh Hà Nam). Từ thuở nhỏ ông đã học tập thi, lễ và lịch pháp, là người có học thức uyên bác, hơn nữa lại nhân ái khiêm cung, mọi người đều thích giao thiệp với ông.

Trác Mậu ban đầu nhậm một chức quan trong phủ Thừa Tướng. Một ngày Trác Mậu ra ngoài, có người dừng xe ngựa của ông lại, bảo rằng con ngựa ông đang dùng là của ông ta. Trác Mậu bèn hỏi người này: “Ông mất ngựa đã bao lâu rồi?”. Người nọ trả lời: “Một tháng rồi”. Trác Mậu đã dùng con ngựa này khá nhiều năm, biết rằng vị kia chắc chắn nhận sai rồi, dẫu vậy ông vẫn không nói gì mà đưa con ngựa cho người nọ, tự mình kéo xe trở về, quay đầu lại nói:“Nếu như đó không phải là ngựa của ông, thì xin ông đưa nó về phủ Thừa Tướng trả lại cho tôi”.

Một thời gian sau, người nọ tìm thấy con ngựa của mình, mới biết là đã nhận lầm, vì vậy đến phủ Thừa Tướng trả lại ngựa cho Trác Mậu, khấu đầu tạ lỗi. Trác Mậu chẳng hề để bụng chuyện ấy.

Trác Mậu cả đời không thích tranh chấp với người khác, theo ghi chép của sử sách trong văn hóa Thần truyền. Đại đa số người thường xem lợi ích bản thân là trọng yếu, vậy mà Trác Mậu bị người ta hiểu lầm thì không hề cùng người ta tranh chấp. Ông không những chịu được oan khuất mà còn nhường những thứ của mình cho người ta, trong tâm vẫn bình tĩnh như thường. Chỉ những bậc Đại Đức có phẩm hạnh tu dưỡng cao thâm mới hành xử được như vậy.

Sau này, bởi Trác Mậu tài đức vẹn toàn nên được đề cử làm quan Thị Lang, nhậm chức Huyện lệnh huyện Mật. Ông làm quan rất mực trung thành, cẩn thận thành khẩn, yêu dân như con, coi trọng lễ giáo. Ông dùng Thiện mà giáo hóa trăm họ, miệng không bao giờ nói lời ác ngôn, thuộc hạ và bách tính đều yêu mến mà không nhẫn tâm lừa gạt ông. Chỉ trong vài năm, đời sống dân chúng trong huyện đều được bình an, nhân tâm hướng thiện.

Vào thời Hán Bình Đế (9 TCN – 5 SCN) bỗng nhiên phát sinh đại dịch châu chấu, tại Hà Nam có 20 huyện bị tai họa nghiêm trọng, chỉ có huyện Mật là không bị giặc châu chấu tiến vào địa giới. Quan Đốc Bưu (chuyên giám sát các quan viên cấp huyện) bẩm báo sự kiện trên với quan Thái Thú. Thái Thú tuyệt nhiên không tin, đích thân đến huyện Mật kiểm tra, cuối cùng không thể không tin, cho nên đối với tài đức của Trác Mậu thì cực kỳ bội phục.

Sở dĩ huyện Mật có thể bình yên vô sự trước đại dịch châu chấu chính là nhờ ở tài đức vẹn toàn của Trác huyện lệnh. Ông dùng Thiện hành Đức để giáo hóa dân chúng, khiến cả vùng đất ấy lòng người đều hướng thiện, đạo đức nâng cao trở lại. Điều đó chính hợp với ý Trời, nên được Trời ban phúc và bảo vệ, tránh khỏi thiên tai nhân họa.

Trác Mậu được thăng quan và nhậm chức Kinh Bộ Thừa, đến lúc rời huyện Mật, già trẻ lớn bé trong huyện đều khóc mà tiễn ông đi. Đến khi Vương Mãng đoạt ngôi, cục diện chính trị hắc ám hỗn loạn, Trác Mậu bèn cáo bệnh từ quan trở về lại cố hương, không muốn làm quan nữa. Trác Mậu làm quan không vì công danh lợi lộc, gặp lúc không thể phát huy Đức chính, không thể tạo phúc cho nước cho dân, thì liền từ quan quy ẩn.

Khi Quang Vũ Hoàng đế lên ngôi, vốn từ lâu đã nghe danh Trác Mậu học vấn cùng đức hạnh hơn người, cho nên ngay lập tức phái người đi triệu mời Trác Mậu. Hoàng đế cũng hạ chiếu thư ca ngợi ông hết lời, cho rằng ông có thể làm được những việc mà người khác không ai làm nổi, và những hiền tài trong thiên hạ đều xứng đáng với những phần thưởng to lớn nhất. Vì thế Quang Vũ Hoàng đế chỉ định Trác Mậu làm Thái phó, phong tước Bao Đức Hầu, thực ấp 2.000 hộ, chu cấp nhiều khí vật tiền tài, còn đề bạt con trai của Trác Mậu mà trao cho nhiều trọng trách.


Đạo nghĩa của người xưa về cuộc sống vợ chồng, THẤM từng từ!

Tình nghĩa vợ chồng ngàn năm mới tu thành, đi qua từng kiếp mới đến được với nhau. Phải làm sao cho trọn vẹn đôi đường?

Bổn phận của người chồng: Tạo dựng tài sản để nuôi sống gia đình là trách vụ chủ yếu của người chồng lý tưởng được Phật dạy trong kinh. Một nam cư sĩ theo tiêu chuẩn thời xưa là phải “đầy đủ sự tháo vát”, nghĩa là phải làm bất cứ nghề nghiệp gì, miễn làm sao tạo dựng được tài sản để có thể đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, đem lại an lạc cho người phục vụ, cho người làm công, đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu; đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thiết trí các sự cúng dường hướng thượng.

Ngày nay, do sự biến dịch và phát triển của xã hội, trách vụ đó có phần nhẹ hơn, vì người vợ đã có những nỗ lực của bản thân để cùng chung lo cho kinh tế gia đình. Mặc dù vậy, về cơ bản, bổn phận tạo dựng tài sản của người chồng để nuôi sống gia đình vẫn mang ý nghĩa thời đại, và nếu như cả chồng và vợ cùng chung lo kinh tế, thì đó là dấu hiệu sung mãn của một gia đình.

Chia sẻ trách nhiệm nuôi con, dạy con và bảo hộ con cái là một trách vụ quan trọng đứng thứ hai sau việc tạo dựng tài sản. Theo suy niệm thường tình, việc nuôi dạy con cái phần lớn do người phụ nữ đảm trách. Mặc dù vậy, việc sẻ chia trách nhiệm trong việc nuôi con, dạy con, chứng tỏ sự trưởng thành lớn của một người nam cư sĩ.

Câu chuyện về tình nghĩa vợ chồng thấm thía

Tương truyền theo Văn hóa Thần truyền, Tề Cảnh Công là vua nước Tề muốn gả con gái yêu cho Yến Anh, bèn đến nhà ông uống rượu. Trong lúc nghe rượu thưởng nhạc, Cảnh Công trông thấy vợ của Yến Anh, liền hỏi: “Đây là thê tử của khanh à?”

Yến Anh trả lời: “Đúng vậy”. Cảnh Công nói: “Cô ta vừa già vừa xấu. Ta có một đứa con gái, tuổi còn trẻ lại xinh đẹp, muốn xin gả cho tiên sinh”.

Yến Tử lập tức đứng dậy, cung kính trả lời: “Vợ của tôi nay vừa già vừa xấu, nhưng xưa kia khi nàng còn trẻ đẹp tôi đã cùng nàng chung sống lâu dài. Khi nàng còn trẻ đẹp, nàng đã trao thân gửi phận cho tôi nguyện cùng tôi chung sống trọn đời. Nàng đã phó thác cuộc đời cho tôi, và tôi đã tiếp nhận lòng tin cậy của nàng. Nay Quân vương muốn ban con gái của Ngài cho tôi, nhưng làm sao tôi có thể phụ bạc lòng tin của thê tử cho được?” Yến Tử bái mấy bái xin tạ ơn và từ chối.

Có một lần, Điền Vô Vũ gặp Yến Tử ở nhà một mình và một người phụ nữ trong nhà bước ra, quần áo giản tiện, mái tóc đã bạc. Điền Vô Vũ chế giễu Yến Tử, nói: “Người đàn bà đó là ai vậy?”

Yến Tử trả lời: “Là thê tử của ta”.

Điền Vô Vũ nói: “Ngài là quan lớn đầu triều, thực ấp điền thuế thu vào bảy mươi vạn, tại sao lại nhận bà lão này làm vợ?”

Yến Tử trả lời, “Ta nghe nói, bỏ rơi một người vợ già là loạn đạo, thú vui lấy thêm thê thiếp trẻ tuổi là dâm đãng. Thấy sắc đẹp quên điều đại nghĩa, thấy phú quý vứt bỏ nhân luân, đó là xa rời đạo đức. Yến Anh ta làm sao có thể hành vi dâm loạn, bất chấp nhân luân, chà đạp đạo đức cổ kim như thế được?”.

Một lần khác, có một thợ khéo là nữ nhân xin làm tôi tớ cho nhà Yến Tử, nói rằng: “Tôi là dân thường đến từ cửa đông thành, mong được gửi thân nơi nhà Ngài, xin được làm hầu thiếp”.

Yến Tử nói: “Đến hôm nay ta mới nhận ra mình không phải là kẻ hiền đức! Thời xưa kẻ chấp chưởng việc triều chính, đều để nhân sỹ, nông phu, nhân công, lái buôn ở tại chốn riêng biệt, nam nữ phân biệt không giao vãng với nhau. Thế nên nhân sỹ không phạm điều tà ác, nữ nhân không phạm điều dâm ô. Ngày nay ta quản lý quốc gia trăm họ, lại có nữ nhân muốn làm người của ta, nhất định là do ta có biểu hiện háo sắc, có hành vi không liêm chính”. Vì thế không tiếp nạp nữ nhân này.

Qua câu chuyện trên mới thấy rằng, bậc trượng phu không chỉ thể hiện qua tài cao trí lớn, mà còn ở tấm lòng thủy chung, son sắt và cách cư xử có đạo với hiền thê, cho dù vợ mình có già nua theo năm tháng, họ vẫn một mực giữ trọn tình phu thê mà chối bỏ nữ sắc trẻ trung hấp dẫn hơn, bởi họ hiểu và tôn trọng lời thề nguyền giao bôi trước Trời Đất khi kết hôn, trân trọng những hi sinh của người bạn đời cho mình.

Vợ chồng đến được với nhau là nhờ nhân duyên tiền định, cho dù đó là thiện duyên hay ác duyên. Nếu là thiện duyên bạn sẽ có một cuộc sống hạnh phúc, nếu là ác duyên thì đấy là cơ hội để bạn thiện giải và bồi hoàn lại những món nợ cũ.

Vậy nên lời khuyên cho bạn là đừng rơi vào cảm giác đau khổ bất hạnh khi phải đối diện với những mâu thuẫn trong cuốc sống vợ chồng, hãy hiểu rằng chịu khổ không phải là điều bất hạnh, thực ra đó là lúc nợ vay phải trả mà thôi, hãy đối diện với những khó khăn đó bằng thiện tâm và thái độ bình tĩnh. Một khi bạn thấy lòng mình không dậy sóng nữa, bạn sẽ thấy những sự việc tiếp theo sẽ có kết quả tốt hơn.


8 LOẠI NGƯỜI TRONG THIÊN HẠ.

 

1 – NGƯỜI HÈN:

Người hèn sống phận ngựa trâu
Người hèn có tính đi đâu cũng luồn
Người hèn ngậm miệng luôn luôn
Người hèn tốt xấu vui buồn mặc bay!

2- NGƯỜI NGAY:

Người ngay ngẩn mắt ban ngày
Người ngay nói thẳng chuyện này chuyện kia.
Người ngay đâu sợ miệng bia
Người ngay tốt xấu phân chia rõ ràng.

3- NGƯỜI SANG:

Người sang phong cách đàng hoàng
Người sang cư xử rõ ràng dưới trên.
Người sang thiên hạ biết tên
Người sang luôn biết mình nên làm gì.

4- NGƯỜI GIAN:

Người gian thập thụt thầm thì
Người gian sau trước chỉ vì mình thôi.
Người gian ăn nói lôi thôi
Người gian của bạn của tôi nhập nhằng!

5- NGƯỜI ÁC:

Người ác sát khí đằng đằng
Người ác bá đạo nhập nhằng vua tôi.
Người ác vì chỗ mình ngồi
Người ác giết cả bầy tôi lẫn thầy!

6- NGƯỜI TÀI:

Người tài tâm đức đắp đầy
Người tài không quản khó này khổ kia.
Người tài biết việc phân chia
Người tài tính trước họa kia phúc này.

7- NGƯỜI NGU:

Người ngu không biết gian ngay
Người ngu lẫn lộn ban ngày ban đêm.
Người ngu ân oán hay quên
Người ngu thường thích những tên nịnh thần!

8 – NGƯỜI KHÔN:

Người khôn lợi dụng xa gần
Người khôn phân định cái cần cái không .
Người khôn biết cách kể công
Người khôn tính việc vượt sông khi cần.


6 đức tính vàng dễ gặp được quý nhân, sống thanh thản hạnh phúc…

Dưới đây là những kiểu người sẽ gặp được rất nhiều quý nhân phù trợ trong cuộc đời, hãy xem mình có những đức tính nào rồi nhé!

Không tham niệm

Sống trên đời hãy nhớ rằng, không ai bên ta cả ngoài chính bản thân ta. Người dù tốt với ta trong lúc này, lúc khác cũng có thể thay đổi. Bố mẹ có bên ta, che chở ta cũng không bao giờ ở đời ở kiếp. Duyên phận hữu hạn, dài ngắn khác nhau, quý nhân lớn mạnh nhất là chính mình. Nếu cứ tham niệm vào sự giúp đỡ của người khác sẽ có ngày bơ vơ, hụt hẫng.

Sống thiện lương

Người có lòng lương thiện, yêu thương mọi người, luôn giúp đỡ người khác mà không mưu cầu hồi báo thì chính là người đã tích được công đức lớn và họ đương nhiên được phúc báo, đó là Thiên lý.

Ngoài ra người lương thiện luôn hòa đồng với mọi người, khuyến khích người khác làm việc thiện, thấy người khác làm việc xấu thì khuyên giải một cách thiện ý, nên bên cạnh họ luôn có quý nhân đi theo trợ giúp.

Sống khiêm tốn

Khiêm tốn là một đức tính cần có mà bất cứ ai cũng nên tu dưỡng. Người khiêm tốn cung kính thì người người yêu mến, quý nhân từ đó mà ra.

Sống biết ơn huệ

Con người không ai có thể thành người tốt nếu sống mà không nhớ đến nguồn cội, hay những người đã giúp đỡ mình khi gặp khó khăn. Quý nhân có thể là bất cứ ai. Cha mẹ sinh thành, dưỡng dục là quý nhân. Thầy có giảng dạy, chỉ bảo là quý nhân. Bạn bè yêu thương, giúp đỡ là quý nhân. Những người ở quanh ta đều là quý nhân của ta. Vậy hà cớ gì phải tìm kiếm đâu xa. Hãy biết ơn chính những người luôn đồng hành cùng ta trong cuộc đời.

Người có năng lực hành động mạnh mẽ

Người chín chắn, một khi có ý tưởng tốt thì lập tức hành động, không đắn đo suy nghĩ, do dự, lưỡng lự thì sẽ dễ thành công và cũng dễ được quý nhân trợ giúp. Tuy nhiên, năng lực hành động mạnh mẽ này không đồng nghĩa với thái độ cực đoan, tức là không cần tham khảo ý kiến của một ai, muốn làm gì liền làm đó.

Sống có khí phách

Người có khí phách là người có ý chí rộng lớn, có thể dung nạp mọi thứ để khiến mình có thể phát triển vượt bậc. Quý nhân sẵn sàng giúp đỡ người có khí phách, bởi vì người như vậy mới khiến họ cảm nhận được rằng những gì mình trợ giúp thật sự đáng giá và sẽ có kết quả. Cho nên, nếu bạn là một người so đo tính toán chi li, cảm xúc trong lòng dễ xao động, rất sợ mất thể diện thì cho dù quý nhân có trợ giúp, bạn cũng sẽ không vui vẻ.


Tướng mạo xinh đẹp, phúc hậu cũng là phúc báo theo lời Phật…

Phật dạy rằng, khuôn mặt xinh đẹp vốn là một loại phúc báo. Dù là phúc báo nào thì cũng có căn nguyên của nó, giống như tài phú đến từ bố thí, tôn quý đến từ khiêm cung, khuôn mặt xinh đẹp đến từ dịu dàng lương thiện. Đến tuổi trung niên, tướng mạo đã đi vào ổn định, cũng là thể hiện của tính cách một người.

Dựa theo luật nhân quả, có rất nhiều nghiệp nhân khác nhau nếu một người có phúc báo về hình thức.

Nhiều người hiền lành có khuôn mặt phúc hậu, người dịu dàng lương thiện có khuôn mặt xinh đẹp. Người thô bạo thường có vẻ mặt hung dữ; rất nhiều phụ nữ trung niên lão niên có tính cách không tốt, vẻ mặt thường cay nghiệt, cũng là tướng bạc mệnh, khắc chồng. Thực ra, tướng mạo không phải cố định từ khi sinh ra, mà nó là kết quả của quá trình tu tâm và hành động lâu dài. Cũng vì vậy, tướng mạo sẽ biểu lộ vận mệnh tương lai của một người. Xem tướng là một loại tích lũy kinh nghiệm, tướng tùy tâm sinh, từ mặt biết tâm, từ tâm biết mệnh.

Người ít chê bai, thường hay khen ngợi điều tốt của mọi người, cũng sẽ thành tựu được quả báo có hình dáng đẹp đẽ.

Người hay dùng tài năng để tô vẽ tranh tượng của các vị Thánh cũng được hưởng phước báo này. Còn những họa sĩ hay vẽ tranh biếm họa, chuyển gương mặt của các nhân vật nổi tiếng sang dạng méo mó, kỳ cục, hài hước sẽ phải chịu quả báo có gương mặt rùng rợn, quái đản ở kiếp sau.

Người hiền lành, đạo đức sẽ toát ra vẻ đẹp thánh thiện, khả kính.

Lòng từ bi cũng là một yếu tố quan trọng. Người có thiện tâm, thường từ trong ra ngoài tản mát ra một loại hào quang, càng khiến người thuận mắt, càng ngày càng thích tiếp xúc. Mà người ích kỷ, giảo hoạt, so đo, tất khó nhìn, thậm chí xấu xí; cho dù may mắn có khuôn mặt đẹp đẽ, thì trên mặt cũng sẽ dần hiện ra một vài chỗ khiến người không thích, người ta thường nói khuôn mặt không có duyên, chỉ lần đầu gặp hơi thuận mặt, tiếp xúc nhiều liền không còn thuận nữa.

Tướng mạo và nghiệp báo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, vẻ đẹp bên ngoài không liên quan đến đạo đức bên trong. Đó là lý do tại tao chúng ta vẫn gặp những phụ nữ xinh đẹp nhưng tâm địa độc ác, hung dữ hay người đẹp nhưng lẳng lơ, không đứng đắn hoặc người đẹp mà không có duyên…

Những người “có duyên” khiến người khác yêu mến thường là người hiền lành, đạo đức, hay lễ Phật, cung kính Tam Bảo hoặc kiên trì làm các công đức lành từ đời trước. Còn những người có tính hay thay đổi, làm phước rồi bỏ dở, hoặc không chung thủy, tín nghĩa, trung thành… sẽ cảm quả báo vô duyên ở đời sau.

Chẳng phải vậy mà chỉ cần nhìn qua nét mặt, cử chỉ, dáng đi của một người, các nhà tướng số có thể kết luật được cuộc đời người này giàu, nghèo, sướng khổ như thế nào.

Thế nhưng, một gương mặt xinh mà lòng không tịnh, hay gây thù chuốc oán chắc chắn sẽ chẳng mấy người ưa, nhưng ngược lại, một người nhan sắc bình thường nhưng ăn ở có tâm có đức chắc chắn sẽ được nhiều người yêu mến. Cái đẹp tỏa ra từ người họ là khí chất khiến người khác nể phục, kính mến, yêu thương. Thế mới nói rằng, muốn dung mạo đẹp, trước hết cần đẹp về nội tâm.


Những tội tạo nghiệp xấu cho chúng ta và con cháu sau này…

Rất nhiều người có ý nghĩ sai lầm rằng giết người mới có tội. Nhưng họ không hiểu là có những tội lỗi tích lũy ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác mà không ai hay.

Những tội tích lũy như dưới đây nhiều người đã phạm phải, tuy không phải là ghê gớm khủng khiếp, nhưng lâu dần tội ấy chất chồng khiến ngày càng nặng nề hơn và khi trả quả cũng sẽ nặng hơn:

TỘI CHỬI CHA MẮNG MẸ:

Nhiều người con bất hiếu, bất mục, xem cha mẹ như người dưng nước lã. Có kẻ mắng nhiếc cha mẹ thậm tệ. Nơi xứ Tây phương, phong tục tập quán khác xứ Đông phương, người ta vịn vào 2 chữ Tự do nên thường đi quá trớn trong cách hành xử trong gia đình, giữa cha mẹ con cái hay vợ chồng.

Tuy nhiên nơi trời Tây cũng hiếm có con cái xấc láo với cha mẹ. Thật ra chữ Tự Do vẫn có giới hạn của nó vì ta nên hiểu hai chữ Tự Do không có nghĩa là “Muốn làm gì thì làm”. Tự Do không có nghĩa là xem thường thầy cô dạy học mình, không kính trọng thầy cô mình. Tự Do không có nghĩa là cải tay đôi với cha mẹ

TỘI ÐỐI XỬ TỆ BẠC VỚI NGƯỜI GIÀ LÃO

Người già ở đây là cha mẹ già hay ông bà nội ngoại già lão. Những người này sống gần đất xa trời, trong lòng luôn luôn lo buồn, nuối tiếc nên thường hay gắt gỏng bực bội. Những người này sức khỏe suy yếu nên không thể làm việc nặng. Những điều đó thường biến họ thành kẽ sống thừa trong xã hội, lời nói và ý kiến của họ đôi khi không còn được ai nghe. Con cháu cũng từ đó mà coi thường và đôi khi có lời nói hành động bất nhã, hỗn xược khiến những người già lão ấy vô cùng tủi thân và đau khổ. Có những gia đình mà cả cha mẹ lẫn con cái đều có thái độ hất hủi đối với ông bà nội ngoại sống cùng trong một nhà.

Cảnh tượng này xãy ra thường ngày ở nhiều gia đình tại Việt Nam, chúng ta. Riêng đối với những gia đình người Việt sinh sống ở xứ người thì hình ảnh vừa kể cũng không hiếm. Những người già lão vừa nêu trên đây là những người thân thuộc trong gia đình, vậy mà đôi khi họ còn bị sự đối xử tàn tệ của con cháu huống hồ những người già lão cô đơn không kẻ thân thích nương nhờ thì cuộc sống của họ sẽ ta sao? Chắc chắn là còn đau khổ hơn nữa. Do đó, ta còn sống trên cõi thế gian này thì phãi nhớ rằng có ngày ta cũng trở thành già lão. Cho nên cần giúp đỡ an ủi người già bất kể họ là cha mẹ, ông bà mình hay họ là người hàng xóm hoặc khách qua đường hay người hành khất… Bởi lẽ họ là các hình ảnh tương lai của mình đó!

TỘI ÐỐI XỬ TÀN NHẪN VỚI NGƯỜI TÔI TỚ, GIÚP VIỆC TRONG NHÀ:

Việc đối xử tàn tệ đối với kẻ ăn người ở trong nhà thường rất phổ biến tại Việt Nam chúng ta. Nhiều người hàng ngày siêng năng tới nhà thờ hay chùa cầu nguyện. Ðứng trước tượng Phật hay Chúa, họ xít xoa, rên rỉ, van lạy khẩn cầu vô cùng thiết tha, cung kính lễ bái tu hành… Nhưng khi bước chân về đến nhà là họ quát tháo người tôi tớ om sòm, mỗi lần không hợp ý điều gì về người làm là họ chụp ngay một vật trước mặt, bất kể là vật gì, cái chổi, cây cuốc, khúc cây, thậm chí con dao họ cũng vung vẩy rượt đuỗi người ở để trừng trị họ. Nhiều chủ nhà dùng lửa bếp đốt da thịt người giúp việc, kẻ tôi tớ trong nhà vì nghi họ ăn vụng trong bếp hay có khi sẩy tay làm bể cái chén hoặc giặt cái áo của chủ không sạch vân… vân…

Năm 1950, tại cố đô Huế đồng bào trong vùng đã chứng kiến cảnh tượng rất dã man một người chủ nhà nổi tiếng tàn ác đã trói người tôi ở của ông ta vào gốc cây nhãn và hành hạ đánh đập người ấy đến ngất xỉu vì nghi họ là kẻ đã ăn cắp tiền của ông: Năm ngày sau người ấy uống thuốc rầy tự vận vì quá uất ức. Nhà chức trách theo lời tố cáo của đồng bào đã mỡ cuộc điều tra và biết được số tiền bị mất chính là do người con trai của chủ nhà lấy: Người chủ nhà bị bắt giam nhưng sau trở thành như ngây dại nên cho về nhà. Riêng người con trai của ông ta trước đó học trường Khải Định, bỏ học đã theo bè bạn ăn chơi lêu lỗng và còn liên hệ tới một vụ trộm tại một cửa tiệm ở đường Trần Hưng Đạo Huế. Bỏ xử tù giam, trong tù anh ta dùng mảnh chai cắt mạch máu ở cổ tay tự vẫn. Người cha từ đó như điên dại, rượu chè be bét và một hôm người nhà thấy ông nằm chết bên gốc cây nhãn, nơi mà trước đó mấy năm ông đã tra tấn hành hạ người tôi tớ của ông đến nổi nạn nhân uất ức phải tự tử.

Những người giúp việc, làm tôi tớ trong nhà luôn luôn là nạn nhân của sự bóc lột sức lao động không thương tiếc của chủ nhà và con cái chủ nhà. Nhiều người làm kẻ giúp việc cho một gia đình có đến 6, 7 người: hai vợ chồng chủ nhà và 5 người con. Nếu những người trong gia đình này không có lòng nhân thì đó là điều bất hạnh cho kẻ vào giúp việc. Người ấy sẽ trở thành kẻ nô lệ cho từng thành viên trong gia đình này. Mỗi ngày người ấy phải lo chu toàn hàng khối công việc nào nấu ăn, giặt rửa, lau nhà quét dọn, ủi áo quần, giữ con, công việc liên tục không ngưng nghỉ. Vậy mà người ấy còn bị mắng nhiếc la rầy, đánh đập vô cùng khốn khổ. Chúng ta vẫn tưởng rằng thời đại văn minh này không còn hình ảnh sự việc khổ đau ấy nữa, nhưng không tại đất nước quê hương mình tình trạng ấy vẫn xảy ra. Bao lâu những người nghèo khổ nơi nông thôn lên tỉnh còn nhiều, chỉ mong có miếng ăn đủ nuôi sống mình qua ngày thì những người đi ở đợ ấy vẫn còn nhiều. Bao lâu mà những kẽ có tiền bạc nhưng không có lòng nhân còn nhan nhãn trong đời thì dưới mắt họ những kẻ tôi tớ trong nhà chỉ là những dụng cụ để họ sử đụng như cái máy chớ không có tình người. Bao lâu mà chúng ta còn tới chùa, nhà thờ cầu nguyện thì ta cũng đừng quên cầu nguyện cho những kẻ khốn cùng này mau thoát khỏi những gia đình hung ác và gặp được những gia đình đầy mối thiện tâm.

Trong cuốn Quốc văn giáo khoa thư ngày xưa có một bài học thuộc lòng rất hay về một ông quan nhân từ: Một hôm gần tới giờ vào triều, ông quan áo mão chỉnh tề chờ người giúp việc bưng tô cháo lên để ăn sáng. Vì sợ chậm trể nên người giúp việc hối hả khiến tô cháo nóng đổ lên áo quan. Ông quan thay vì tức giận quát mắng người ấy thì ông lại nhẹ nhàng hỏi: “này Con có bị phỏng hay không?”

TỘI ÐỐI XỬ ÁC NGHIỆT VỚI CON DÂU

Cho đến nay, vấn đề mẹ chồng con dâu vẫn còn là đề tài gay cấn. Nhiều người tự cho mình là hiền đức nhưng lại không xem con dâu như con mình mà vẫn thường tìm những sai sót của con dâu để bắt bẻ, hạch xách, nói xấu và tạo mối ác cảm ngày một gia tăng. Dĩ nhiên trên thế gian này vẫn không hiếm những người con dâu ngổ nghịch, hỗn láo, xấc xược. Nếu người đó hiểu được luật Nhân Quả thì có lẽ người ấy đã không có thái độ sai trái đối với cha mẹ chồng vì tương lai người ấy cũng sẽ có dâu con!

Như thế luật Nhân quả không phân biệt Mẹ chồng hay nàng Dâu. Nếu Mẹ chồng ác nghiệt với Dâu thì mẹ chồng sẽ nhận quả báo tương xứng.

Nếu người con dâu sống không phải với mẹ chồng thì luật Nhân quả sẽ khiến quả báo dội ngược về phía người con dâu, không sai lệch vào đâu được.

Về chuyện những người đàn bà đối xử ác nghiệt với con dâu trong thế gian nhiều vô kể. Ta đã từng nghe có những người đàn bà gian ác muốn tạo xấu cho con dâu đã không từ nan những hành động ác độc ném đá dấu tay từ nhỏ nhoi đến to lớn như lén bỏ muối vào thức ăn mà con dâu đang nấu hay độc ác hơn, bỏ chất độc vào thức ăn để hô hoán lên là con dâu hãm hại cha mẹ chồng. Ngày xưa có nhiều bà mẹ chồng tàn ác và ghét con dâu nên tìm cách cưới thêm vợ lẽ cho con trai để người con dâu đau khổ. Ngày nay sự việc ấy khó xảy ra nhưng những người đàn bà có bản tánh xấu xa độc hiểm với con dâu thì họ thường có vô số mưu lược, ý đồ để làm hại con dâu.

Thế gian cũng có những đứa con dâu gian ác, tàn nhẫn đối với mẹ chồng. Có người sợ mẹ chồng lấy tiền bạc của chồng đi hay sợ phải nuôi nấng cưu mang cha mẹ chồng. Có người còn hung hãn hơn như trường hợp tại San Francisco, đã có trường hợp một người con dâu có lời qua tiếng lại với cha chồng và đã rút súng ra chỉa về phía cha chồng hăm dọa: Nếu ông còn bước tới tôi sẽ bắn!

Tuy nhiên trên cõi đời này không phải tất cả các bà gia, các bà mẹ chồng đều ghét con dâu. Cũng như không phải tất cả các con dâu đều ghét và coi thường cha mẹ chồng. Có những người con dâu thương yêu quý trọng cha mẹ chồng như cha mẹ mình. Cũng có những cha mẹ chồng thương quý con dâu có khi còn hơn cả con ruột mình. Bất cứ điều gì cũng đều có nguyên nhân của nó.

 


Không chỉ tướng mạo mà giọng nói cũng thể hiện phúc đức phụ nữ, đừng bỏ lỡ người có đặc điểm sau :

Cử chỉ, trang phục, ngôn ngữ, hành động của con người thể hiện ra như thế nào sẽ cho chúng ta thấy được địa vị và nhân cách của người đó. Người phụ nữ được ví như suối nguồn phong thủy thịnh vượng, họ là người mang đến tài vận và may mắn, gia đình được hưởng bao nhiêu phúc báo là do người phụ nữ quyết định. Nếu muốn biết tính cách bên trong của một người, chỉ cần nhìn biểu hiện tướng mạo bề ngoài cũng có thể đoán được.

Như vậy, do đâu mà người phụ nữ có thể nhận được phúc báo?

Một là do tu dưỡng

Người phụ nữ nên giữ cho mình một trái tim lương thiện, tu dưỡng sự thiện lương sẽ nhận được ngày càng nhiều phúc báo. Việc tu dưỡng trái tim lương thiện cũng sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính cách. Thông qua việc làm hàng ngày mà biết được người phụ nữ này sẽ nhận được bao nhiêu phúc báo. Khi nói chuyện, chúng ta cũng có thể thấy được sự khôn ngoan và thông minh của họ. Người phụ nữ được tu dưỡng tốt thường không nói nhiều nhưng sẽ liên tiếng khi cần thiết, lời nói không gai góc nhưng đầy trí tuệ thâm sâu.

Họ là người phụ nữ thanh lịch, không cần trang điểm quá nhiều nhưng vẫn thể hiện ra nét quyết rũ đặc biệt. Nếu quan sát bạn sẽ thấy, trang phục mà họ mặc cũng thể hiện sự thanh lịch trong đó, mộc mạc nhưng tươi mới, cổ điển và độc đáo.

Người phụ nữ có tu dưỡng sẽ giống như một người bảo vệ, quyết định sự hưng suy của một gia tộc. Đức hạnh của người phụ nữ cũng không thể che dấu, chúng đều được biểu lộ ra bên ngoài. Người phụ nữ được tu dưỡng tốt, họ sẵn sàng chịu khổ cùng chồng và kính trọng cha mẹ hai bên.

Họ biết cách qúy trọng và yêu thương, sẵn sàng buông xuống ước vọng giàu sang, không ghen ghét so bì với sự giàu sang của người khác. Họ sẽ không vì tiền mà trở thành người vô lương tâm, nhạo báng mọi người.

Ngay cả lời nói họ cũng chú ý tu dưỡng. Lời nói mang theo thiện niệm, rõ ràng mà ngọt ngào dễ nghe.

Thứ hai là ngôn ngữ

Khi nghe tiếng chuông chùa, tiếng tụng kinh gõ mõ, chúng ta dường như nghe thấy âm thanh của Phật vui cười phát ra từ những đám mây, âm thanh nghe như chim hót khiến tâm hồn người cảm thấy vô cùng thoải mái dễ chịu. Cũng vậy, giọng nói của người phụ nữ vừa tròn lại trong, người này chắc chắn rất có phúc khí.

Người có giọng nói dễ nghe nhất định là người có tu dưỡng nội tâm tốt, tích đức hành thiện mà được an khang, biết sám hối và sửa đổi bản thân sẽ tạo nên vẻ đẹp hiền thục.

Lời nói không châm biếm, không gắt gỏng, không thô kệch, không chì chiết mà tràn đầy sự hiền từ của người phụ nữ, nó thể hiện ra giọng nói hay như tiếng chim hót khiến ai cũng muốn nghe. Người phụ nữ như thế nhất định là người đại phúc.

Nếu như giọng nói của người phụ nữ không tốt thì gia đình rất khó thịnh vượng. Muốn nói lời hay ý tốt thì cần phải tu đức, bởi vì lời nói xuất ra từ nội tâm, trời đất đều biết rõ.

Thứ 3 là tướng mạo

Khi thể hiện ra nét mặt hiền lành, hòa ái dễ gần, giản dị thanh cao đều cho thấy nội tâm người này rất thiện lương, biết lo tu thân dưỡng tính. Người có nhiều phúc báo sẽ thể hiện ra ở chính gương mặt.

Càng lớn tuổi, tướng mạo của người phụ nữ này càng thiện, càng không già đi, ai tiếp cận họ cũng luôn có cảm giác thân thiết. Càng lớn tuổi, tính tình càng giống một đứa trẻ, nội tâm an lạc như là ở đời này không còn gì phải lo lắng.

Kỳ thực sự giàu có của người phụ nữ không phải đến từ chồng, lại không đến từ ông chủ mà là đến từ chính phúc phận của họ. Giữ thiện tâm và cố gắng hành thiện, người phụ nữ sẽ tích được phúc báo.